Một trong những điều kiện để hình thành thị trường logistics có sức cạnh tranh là chuyển nhu cầu vận tải phân tán của từng doanh nghiệp thành nguồn hàng có quy mô, có khả năng xác minh và có kế hoạch khai thác rõ ràng. Thay vì để từng chủ hàng tự tìm kiếm, đàm phán và lựa chọn nhà cung cấp, cần tổ chức một cơ chế kết nối nhu cầu với năng lực cung ứng trên cơ sở dữ liệu minh bạch, tiêu chí thống nhất và cạnh tranh bằng hiệu quả dịch vụ.
Trước hết, các hiệp hội ngành hàng chủ động xác định, phân loại và đăng ký những dòng hàng chủ lực theo sản lượng, thị trường tiêu thụ, mùa vụ, điểm đi – điểm đến, tuyến vận chuyển và yêu cầu logistics. Nhu cầu được phân loại theo mức độ xác minh, từ sản lượng dự kiến, sản lượng đã được xác nhận đến sản lượng có hợp đồng hoặc cam kết giao dịch. Việc phân loại này giúp phản ánh đúng quy mô thị trường, hạn chế tình trạng phóng đại nguồn hàng và tạo cơ sở để các nhà cung cấp chủ động xây dựng phương án khai thác.
Trên cơ sở đó, Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) phối hợp với các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp, hợp tác xã và chủ hàng tổ chức tập hợp nhu cầu, hình thành sức mua logistics có quy mô đủ lớn, ổn định và có thể kiểm chứng. Đây là cơ sở để chuyển từ đàm phán riêng lẻ sang đàm phán tập trung, mời chào giá cạnh tranh và thiết lập các thỏa thuận cung ứng dịch vụ phù hợp với nhu cầu thực tế. Đối tượng tham gia không chỉ là hãng tàu, hãng hàng không, mà còn bao gồm doanh nghiệp vận tải, đơn vị khai thác cảng, kho bãi, trung tâm logistics và các nhà cung cấp dịch vụ trên toàn chuỗi.
Để cơ chế này vận hành thực chất, VLA có thể nghiên cứu xây dựng Nền tảng kết nối và điều phối năng lực logistics, làm đầu mối kết nối nguồn hàng với năng lực cung ứng. Nền tảng tập hợp, chuẩn hóa và cập nhật các thông tin cần thiết về sản lượng, tuyến vận chuyển, lịch khai thác, năng lực phương tiện, khả năng cung ứng container, năng lực cảng và kho bãi, trung tâm phân phối, dịch vụ bảo quản lạnh, giá dịch vụ và các điều kiện giao nhận. Trên cơ sở dữ liệu được chuẩn hóa, chủ hàng có thể xác định nhu cầu, so sánh phương án; nhà cung cấp có thể tiếp cận cơ hội kinh doanh, chào giá và bố trí năng lực phù hợp; các bên có cơ sở theo dõi việc thực hiện hợp đồng và đánh giá chất lượng dịch vụ.
Việc vận hành nền tảng phải gắn với nguyên tắc quản trị dữ liệu rõ ràng: thông tin được xác minh theo nguồn cung cấp, cập nhật theo trạng thái thực tế và phân quyền tiếp cận theo chức năng, mục đích sử dụng. Dữ liệu tổng hợp phục vụ điều phối thị trường cần được phân biệt với thông tin thương mại nhạy cảm của từng doanh nghiệp. Cơ chế bảo mật, ghi nhận lịch sử truy cập và kiểm soát việc sử dụng dữ liệu phải được thiết lập nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của chủ hàng, duy trì cạnh tranh độc lập và tạo niềm tin cho các bên tham gia.
Trên nền tảng đó, cần hình thành cơ chế ưu tiên tiếp cận và phân bổ năng lực logistics theo tiêu chí công khai, minh bạch và có thể kiểm chứng. Các dòng hàng và doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu về sản lượng, chất lượng, tính ổn định, tiêu chuẩn hàng hóa, tuân thủ pháp luật và cam kết sử dụng dịch vụ có thể được xem xét ưu tiên bố trí năng lực phù hợp. Việc ưu tiên phải gắn với hiệu quả khai thác, mức độ đáp ứng yêu cầu dịch vụ và kết quả thực hiện cam kết; đồng thời bảo đảm quyền lựa chọn của chủ hàng, cơ hội tham gia bình đẳng của các nhà cung cấp và tuân thủ quy định pháp luật về cạnh tranh. Đây không phải cơ chế dành quyền độc quyền cho một doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp, mà là phương thức sử dụng năng lực logistics hiệu quả hơn trên cơ sở nhu cầu thực tế.
Phạm vi điều phối cần được mở rộng trên toàn bộ chuỗi cung ứng logistics, từ vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, đường biển và đường hàng không đến cảng biển, cảng cạn, kho bãi, trung tâm phân phối, container, giao nhận và chuỗi cung ứng lạnh. Khi năng lực của từng khâu được kết nối theo cùng một kế hoạch hàng hóa, các bên có thể phối hợp tốt hơn giữa vận chuyển, lưu kho, trung chuyển và giao nhận; hạn chế thời gian chờ, năng lực nhàn rỗi, trung chuyển không cần thiết và những chi phí phát sinh do thiếu đồng bộ. Qua đó, lợi thế không chỉ đến từ mức giá riêng lẻ của một nhà cung cấp, mà từ hiệu quả tổng thể của phương án logistics đầu cuối.
Hiệu quả của nền tảng cần được đánh giá bằng kết quả thực tế, không chỉ bằng số lượng doanh nghiệp đăng ký hoặc quy mô nguồn hàng khai báo. Các chỉ tiêu trọng tâm gồm sản lượng được xác minh và sản lượng thực tế vận chuyển; số nhà cung cấp độc lập tham gia chào giá; mức giảm tổng chi phí logistics trên một đơn vị hàng hóa; thời gian vận chuyển và giao nhận; tỷ lệ giao hàng đúng hạn; chất lượng dịch vụ và mức độ duy trì cam kết sau giao dịch. Các chỉ tiêu phải có đường cơ sở, nguồn dữ liệu và phương pháp đối chiếu thống nhất để bảo đảm kết quả đánh giá phản ánh đúng hiệu quả của cơ chế.
Mục tiêu là chuyển nhu cầu logistics phân tán thành sức mua có tổ chức; chuyển quan hệ đàm phán riêng lẻ thành môi trường cạnh tranh cung ứng minh bạch; và chuyển năng lực vận tải từng khâu thành hiệu quả logistics toàn chuỗi. Khi nguồn hàng được xác minh, dữ liệu được quản trị đúng cách và năng lực cung ứng được điều phối theo nhu cầu thực tế, doanh nghiệp có thêm lựa chọn, nhà cung cấp có thêm cơ hội tiếp cận thị trường và toàn chuỗi logistics có điều kiện giảm chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ.
Giá trị cốt lõi của mô hình không nằm ở việc tập trung dữ liệu hay quy tụ doanh nghiệp trên một nền tảng, mà ở khả năng biến dữ liệu thành quyết định, biến nhu cầu thành giao dịch và biến cạnh tranh thành hiệu quả kinh tế có thể đo lường.